Sơn thì xem theo cái thế nó dẫn lại, phải định rõ được đâu là Tổ Sơn , có thế mới xác định được Mạch đi theo Hướng nào đến. Thủy thì xem chỗ nó triều lại, hay nơi nước hội tụ, hay nơi gần Thủy.

Đến bất kỳ Hình cục nào, thấy có Sơn thì xem theo Sơn, thấy có Thủy thì xem theo Thủy. Sơn thì xem theo cái thế nó dẫn lại, phải định rõ được đâu là Tổ Sơn (trong Dương Trạch đô thị, thì xem những Cao Ốc lớn là Tổ Sơn), có thế mới xác định được Mạch đi theo Hướng nào đến. Thủy thì xem chỗ nó triều lại, hay nơi nước hội tụ, hay nơi gần Thủy.

 

 


 
    Sơn tuy là gốc khởi phát Tinh-phong, nhưng Bản cục mà ta chọn thường xem chỗ kết cục, tức Long dẫn vào. Nếu gần nơi Hình cục không có sơn phong khởi chỏm lên, thì lấy chỗ Lai Long, tức là lấy hướng Mạch lại Huyệt trường. Nếu có sơn phong (núi cao lên) thì Bản cục phải theo chỗ phong khởi mà định.

    Thủy tuy gốc ở chỗ Lưu nguyên (phát xuất của nguồn nước), nhưng Bản cục định ở chỗ góc nó triều vào, không có Hợp thủy thì lấy chỗ Thủy hoành nhiễu (quấn quanh ngang mặt). Nếu có chổ Thủy hội họp, thì bản cục lấy ở chỗ hội họp ấy mà quyết.

    Vậy thì ở chốn đồng bằng, đô thị lấy chỗ cao hơn làm Sơn, chỗ thấp hơn làm Thủy. Chỗ Sơn khởi phong cao lên gọi là Kiến, chỗ Thủy gặp nhau gọi là Phá. Kiến làm Chủ, Phá làm Khách, Chủ-Khách phối với nhau thì ra quẻ.

    Sau khi biết được quẻ gì, sao gì thì lấy đó nhập Trung Cung, phi thuận ra 8 phương để xem Sinh, Vượng, Quan Sát và đoán Cát Hung.

    Nói thì khó hiểu, nhưng để mình ví dụ cho dễ hiểu hơn : Tỷ như phương Ly có Thủy thì ta định là Khảm Sơn, phương Càn có Thủy thì ta định là Tốn Sơn.

    Sơn xuyên Kiến, Phá yếu phân minh
    Kiến thanh hồ, Phá yếu ninh
    Cánh trị sơn phương vô khắc sát
    Chủ sơn đắc vận, họa nan sinh

    Dịch nôm na đại ý thế này: Núi, sông, Kiến, Phá phải rõ ràng, tinh tường. Ở phương Kiến cần phải thanh, sảo, không nên thô ngạnh; phương Phá cần yên tĩnh. Nếu như phương chủ sơn (quẻ, cục) ấy không bị phương ấy khắc sát. Thì lúc chủ sơn đắc vận, tai họa khó mà xâm hại đến được.

    Ở nơi núi cao thì lấy chỗ cao làm Kiến, chỗ thấp làm Phá. Nơi đất bằng thì lấy Tọa sơn làm Kiến, hướng triều vào làm Phá. Kiến là Chủ thì nên triều vào và tú lệ, thanh quang. Phá là Khách thì nên vòng cong ôm lại.

    Nếu thấy phương Sinh có Cao Sơn mà Thủy uốn vòng quanh, thì con cahú có phước lộc, nếu được chủ Kiến đắc Vận thì đại phát phú quý.
    Cũng phân như Cửu Cung trong Huyền Không :

    Cửu cung Bát Quái thử trung phân
    Nhất Bạch Tham Lang , Khảm Thủy thần
    Cửu Tử Hữu Bật, Ly Hỏa diệm
    Tứ Lục Văn Xương, Tốn Mộc thân.

    Lục Bạch Vũ Khúc, Càn thuộc Kim
    Bát Bạch Cấn Thổ, Tả Phù tinh
    Thất Xích Phá Quân, Đoài Kim quản
    Tam Bích Chấn Mộc, Lộc Tồn sinh
    Ngũ Hoàng Liêm Trinh, Trung cung Thổ
    Nhị Hắc Khôn Thổ, Cự Môn hình
    Cửu cung ngôi vị tường minh bạch
    Cát Hung quyết đoán dữ phân minh.

    Tức là : Nhất Bạch sao Tham Lang là Khảm Thủy, Nhị Hắc sao Cự Môn thuộc Khôn Thổ, Tam Bích sao Lộc Tồn thuộc Chấn Mộc, Tứ Lục sao Văn Xương thuộc Tốn Mộc, Ngũ Hoàng sao Liêm Trinh chiếm Trung cung Thổ, Lục Bạch sao Vũ Khúc thuộc Càn Kim, Thất xích sao Phá Quân thuộc Đoài Kim, Bát Bạch sao Tả Phù thuộc Cấn Thổ, Cửu Tử sao Hữu Bật thuộc Ly Hỏa.

    Trên là phần giới thiệu về Cửu tinh và cách lập cục, tiếp đến chúng ta tìm hiểu thế nào là Sinh, Sát, Thoái, Tử, Vượng Khí của Cửu tinh

    CỬU TINH SINH KHẮC CA
    Sinh Khí nguyên lai, sinh ngã thân
    Sát tinh khắc ngã, tiệp sinh sân
    Ngã nhược sinh tha, vi Thoái khí
    Lâm ngộ khắc giã thị Tài thần
    Đản vi Tử khí, phi toàn lợi
    Dữ ngã tương đồng, Vượng khí chân


    Tức là : Nếu nó sinh ta thì đó là Sinh Khí, nó khắc ta là Sát Khí, ta sinh nó là Thoái Khí, ta khắc nó thì đó Tài Khí tuy nhiên đó là phương Tử Khí thì cũng chẳng ích lợi gì, cùng ngũ hành với ta đó là Vượng Khí.

    Khi đến Cuộc thế đất, ta xem phương khởi phong (núi cao lên), xem nơi nào gần nước thì lấy chỗ đó mà định quái cục Quái cục đã định được rồi thì lấy Sao bản quái đó nhập vào Trung cung, thuận phi 8 phương, xem phương nào Sinh , Khắc,...

    Ví dụ : Ta có phương Ly gần nước, tức lấy Bản quái cục là Khảm. Xem trên kia thì thấy " Nhất Bạch Tham Lang, Khảm Thủy Thần", vậy thì ta lấy Nhất Bạch nhập Trung Cung thuận phi đi 8 phương, Nhị Hắc ở Càn là Sát Khí phương, Tam Bích ở Đoài là Thoái Khí phương, Tứ Lục đến Cấn cũng là Thoái Khí phương, Ngũ Hoàng đến Ly là Sát Khí phương, Lục Bạch đến Khảm là Sinh Khí phương, Thất Xích đến Khôn là Sinh Khí phương, Bát Bạch đến Chấn là Sát Khí phương, Cửu Tử đến Tốn là Tử Khí phương.

    Sao tại Trung Cung làm chủ, các sao phi đến các phương đều so đối với nó mà xét sự Sinh, Khắc, Sát, Tử, Thoái. Cho nên khi so đối ra, Nhị Hắc đến Càn không phải so với bản cung Càn Kim đó, mà so với Nhất Bạch ở Trung Cung, Thổ khắc Thủy, nên đó mới là phương Sát Khí. Các cung , sao khác cũng tương tự vậy mà tính. (Sưu tầm)
-------->> 

Tuy nhiên , các bạn cần lưu ý 2 nội dung

I, Đây không phải là Bộ Khởi Gốc mà chỉ  là bộ Bổ trợ  dùng để  Bổ Trợ thêm cho Bộ Khới Gốc chứ không thay thế được cho Bộ Khởi Gốc Các bạn mở xem website này :  www.BộKhởiGốc.vn/CTTB 

 

II, Để tránh lãng phí và có hiệu quả cao khi dùng các Pháp Bảo Phong Thủy, bạn nên kết hợp với Bộ Khởi Gốc (bạn Click mở xem chi tiết ở website này để vận dụng: www.BộKhởiGốc.vn/CTTB  )    

Khi cần tham vấn, bạn có thể liên hệ với Phong thủy gia 

Phong thủy gia Group
Địa Chỉ: 440 đường Bưởi, Ba Đình, Hà Nội 
Hotline / ZaLo / Viber:  0966.111.338
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  

 


 

 
===================Xem thêm===
 
 
  ==================
 

 
 

Ghi vào ô bên dưới nếu bạn cần Tư Vấn Cách dùng Đúng và Đủ

Cập nhật lần cuối: 5/25/2021 10:41:12 PM

Về trang trước Bản in Gửi email

Tin xem nhiều nhất

Sản phẩm
Tin tức
Tìm kiếm

Liên hệ